Hiển thị các bài đăng có nhãn ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

THIÊN CAN

Ngũ hành của mười Can

Mười thiên can: Theo thứ tự từ 1 đến 10 là:
Giáp(1), ất (2), bính (3), đinh(4), mậu (5) kỷ (6), canh(7), tân (8), nhâm (9), quí (10).
Giáp  ất đều thuộc mộc, Giáp là dương Mộc, ất là âm Mộc
Bính  đinh đều thuộc hỏa, Bính là dương Hỏa, đinh là âm Hỏa
Mậu kỉ đều thuộc thổ, Mậu là dương Thổ, kỉ là âm Thổ
Canh Tân đều thuộc Kim, Canh là dương Kim, Tân là âm Kim
Nhâm quý đều thuộc Thủy, Nhâm là dương Thủy, quý là âm Thủy
Mười can phối phương vị

Giáp ất phương đông mộc
Bính đinh phương Nam Hỏa.
Mậu kỉ Trung ương thổ.
Canh tân phương tây Kim
Nhâm quý phương bắc Thủy.
Mười can phối thân thể


Mười can phối thân thể: Giáp là đầu, ất là vai, bính là trán, đinh là răng lưỡi, mậu kỉ là mũi mặt, canh là gân báp tay, tân là ngực, nhâm là bắp chân, quý là bàn chân
Mười can phối ngũ tạng: Giáp là mật, ất là gan, bính là ruột non, đinh là tim, mậu là dạ dày, kỉ là lá lách, canh là ruột già, tân là phổi, nhâm là bàng quang, quý là thận.
Mười can phối với lục thần

Giáp ất là thanh long chủ các việc vui mừng khánh chúc.
Bính đinh là chu tước chủ các việc thị phi cãi vã, văn thư.
Mậu là câu trầm chủ việc lo lắng về ruộng đất.
Kỉ là phi xà chủ các việc lo lắng vu vơ.
Canh tân là bạch hổ chủ các việc máu me tang tóc.
Nhâm quý là huyền vũ chủ các việc ám muội, trộm cắp.

Mười can hóa hợp
Mười can hóa hợp là dương hợp với âm, âm hợp với dương, là âm dương hóa hợp. Sách chu dịch có câu: "một âm, một dương gọi là đạo". Âm dương hợp với nhau như nam nữ hợp nhau để thành đạo vợ chồng.
Giáp hợp kỉ hóa thổ
Ất hợp canh hóa kim
Bính hợp tân hóa thủy
Đinh hợp nhâm hóa mộc
Mậu hợp quý hóa hỏa.

  • Giáp hợp với kỉ là sự hợp trung chính. Giáp là dương mộc, tính nhân từ đứng đầu 10 can. Kỉ là âm thổ, tính yên tĩnh nuôi dưỡng vạn vật. Giáp kỉ tương hợp chủ về người được tôn kính, phúc hậu thẳng thắn. Nếu trong mệnh mà gặp tử tuyệt kèm thêm sát thì chủ về tính hay giận, tủy tiện.
  • Ất hợp canh  có tên là sự hợp nhân nghĩa. Ất là âm mộc, tính nhu, nhân từ. Canh kim là dương kim, tính cứng bất khuất, cho nên ất canh tương hợp có cương có nhu nên gọi là nhân nghĩa. ất canh tương hợp, gặp sinh vượng thì cốt cách thanh tú, chủ về người có chí tiến thủ. Nếu tử tuyệt kèm thêm sát chủ về dũng cảm, lầm lì, hiên ngang, hay tranh cãi.
  • Bính tân tương hợp gọi là sự hợp về uy chế ngự. Bính là dương hỏa xán lạn chói chang, tân là âm kim, chất nhu mà nhẫn nại. Bính hợp với tân là trong nhu có cương, gọi là sự tương hợp có uy chế ngự. Nếu sinh vượng thì bề ngoài uy nghi, nghiêm túc, khiến người khác nể sợ. Nếu tử tuyệt thì người hay nghiện ngập, ham cờ bạc, háo sắc. Kèm thêm sát thì là người vong ơn bội nghĩa, vô tình.
  • Đinh hợp nhâm gọi là sự tương hợp dâm loạn. Đinh hỏa là âm hỏa , âm tàng ám muôi, nhâm thủy là dương thủy tính lạnh, hướng hàn, cho nên đinh nhâm là sự tương hợp dâm loạn. Đinh nhâm tương hợp chủ về người mắt sáng, thần sắc đẹp, đa tình dễ rung động, gặp việc thì không có chí, tính cách tiểu nhân, tham lam, dâm ô. Nếu là đang bà thì lấy chồng già hoặc tuổi cao lấy chồng. Trẻ ăn chơi già tốt, và ngược lại.
  • Mậu quý tương hợp gọi là vô tình hợp. Mậu là dương thổ khô khan, chồng khó tính, Quý là âm thủy nhu nhược xấu xí. Mậu quý tương hợp là sự hợp dương già âm trẻ, nên gọi là vô tình. Mậu quý tương hợp có tốt có xấu, Mậu được quý thì người đẹp kiều diễm, nam lấy được vợ đẹp, nữ lấy được chồng đẹp, Quý được mậu thì dung nhan thô lỗ, nam lấy vợ già, nữ lấy chồng già.
  


Thứ Hai, 28 tháng 3, 2016

ÂM DƯƠNG-NGŨ HÀNH

Âm Dương- Ngũ hành

Âm Dương là gì?
   Người cổ trung quốc xưa khi quan sát vạn vận trong quá trình hình thành, phát triển, biến hóa ... Người ta chia thành 2 loại âm, và dương. Trong quá trình đó sự biến đổi đó, thì 2 khí âm dương chính là nguyên nhân của sự hình thành, phát triển, biến đổi..
    Nó khởi nguồn từ bao giờ thì đây là một câu hỏi mà còn gây quá nhiều tranh cãi. Có thuyết nói từ thời nhà Hạ, khởi nguồn bằng hai hào âm dương trong kinh dịch bát quái.
     Khi nói đến âm dương tức là nói đến sự đối lập của 2 khí, mọi sự vật, sự việc, hiện tượng đều có 2 mặt của nó, hai mặt này tồn tại song song trái ngược nhau. 
    Tuy nhiên là thế nào để phân định dược đâu là âm, đâu là dương? " Hệ từ " có viết: "Đạo càn là Nam, đạo khôn là nữ", " Trời quý , đất hèn", Càn là dương là vật, khôn là âm cũng là vật" Quẻ dương lẻ, quẻ âm chẵn" Phàm cái gì như Nam, cao, lẻ, cứng rắn... đều là dương. còn Nữ, thấp, mềm yếu... chẵn là âm. 

Ngũ Hành là gì?
Học thuyết ngũ hành cho rằng thế giới này do 5 loại vật chất cơ bản tạo thành, đó là : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Sự phát triển biến hóa của mọi sự vật, hiện tượng ( bao gồm cả con người đều do sự tác động qua lại giữa 5 loại nguyên tố cơ bản đó mà thành. Và khi nghiên cứu quy luật này sẽ giúp chúng ta tìm ra được nguyên nhân ra đời, phát triển và hủy diệt của vạn vật trong  vũ trụ.
Đặc tính của ngũ hành:

  • Mộc - mọc hướng lên trên và phát triển
  • Hỏa- nóng, hướng lên trên
  • Thổ- nuôi lớn, phát dục
  • Kim- thanh tĩnh, thu sát
  • Thủy - lạnh rét, hướng xuống dưới.


Ngũ hành sinh khắc

Học thuyết ngũ hành cho rằng giữ các sự vật với nhau luôn có một mối quan hệ nhất định. Mối quan hệ này thúc đẩy sự vật phát triển và biến hóa. Giữa các ngũ hành tồn tại quy luật tương sinh, tương khắc. Tương sinh tức là nuôi dưỡng thúc đẩy giúp đỡ lẫn nhau, tương khắc là rằng buộc, khắc chế, khống chế lẫn nhau.

Tương sinh là mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc.
Tương khắc kà mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc.
Ngũ hành tương sinh tương khắc

Nếu như ta chỉ biết có ngũ hành thuần tương sinh, tương khắc mà không biết được sự phản sinh phản khắc thì sẽ không vận dụng được tốt lý luận ngũ hành sinh khắc để dự đoán trong các ứng dụng về phong thủy, tứ trụ, chu dịch... Sách xưa có viết: Kim vượng được hỏa sẽ thành vũ khí, Hỏa vượng được thủy sẽ thành cứu nhau, Thủy vượng được thổ sẽ thành ao đầm, Thổ vượng được mộc sẽ thành rừng núi, Mộc vượng được kim sẽ thành rường cột"

  • Phản sinh tức là khắc: trong ngũ hành tương sinh có hành được sinh và hành sinh. Nếu một trong 2 hành quá mạnh mà hành còn lại yếu thì sẽ không còn là tương sinh đúng nghĩa. Dưới đây là trường hợp phản sinh khi hành sinh quá mạnh còn hành được sinh yếu. Thực tiễn ta có thể thấy như là một người gầy yếu mà ăn quá nhiều không tiêu hóa được sẽ bị chết vì no quá, khi đun bếp mà cho quá nhiều củi than che lấp gió thì lửa sẽ tát, cây mới trồng mà tưới quá nhiều nước cây cũng sẽ bị úng mà chết. Cho nên Phản sinh tức là khắc.
Kim dựa vào thổ sinh, nhưng nếu thổ nhiều thì kim bị vùi lấp.

Thổ dựa vào hỏa sinh, nhưng hỏa nhiều thì thổ thành than.
Hỏa dựa vào mộc sinh, nhưng mộc nhiều thì hỏa bị tắt, hỏa không cháy lên được.
Mộc dựa vào thủy sinh, nhưng thủy nhiều thì mộc bị trôi dạt, chết non.
Thủy dựa vào kim sinh, nhưng kim nhiều thì nước đục.
  • Xì hơi nhiều tức là khắc: Trong trường hợp này giống như cha mẹ yếu mà con nhiều, mạnh. khi cha mẹ yếu mà sinh nhiều con thì cha mẹ hao mòn nhanh mà suy kiệt. 
Kim có thể sinh thủy, Thủy nhiều thì kim bị chìm xuống.
Thủy có thể sinh mộc, Mộc Vượng thì thủy bị co lại.
Mộc có thể sinh hỏa, Hỏa vượng thì mộc bị đốt.
Hỏa có thể sinh thổ, Thổ vượng thì hỏa âm ỉ.
Thổ có thể sinh kim, Kim vượng thì thổ không còn .

  • Phản khắc: Trong ngũ hành không chỉ có khắc thuận như kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim. Mà phải xem xét kĩ vì mạnh mới khắc được yếu, vượng mới khắc được suy cho nên: 
Kim có thể khắc mộc, Mộc vượng, kim yếu thì kim sẽ mẻ.
Mộc có thể khắc thổ, Thổ vượng, mộc yếu thì mộc bị thắt lại.
Thổ có thể khắc thủy, Thủy vượng, thổ yếu thì thổ sẽ bị trôi dạt.
Thủy có thể khắc hỏa, Hỏa vượng thủy yếu thì thủy phải khô.
Hỏa có thể khắc kim, Kim vượng hỏa yếu thì hỏa tắt.

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2016

Hà Đồ - Lạc Thư- Bát Quái

HÀ ĐỒ

Đồ hình Hà Đồ
1-6 là thủy phương bắc 2-7 là hỏa phương nam 3-8 là mộc phương đông 4-9 là kim phương tây 5-10 là thổ đóng trung ương

LẠC THƯ
Đội 9 đạp 1, trái 3 phải 7, 2-4 là vai, 6-8 là chân 5 ở trung cung.

THỨ TỰ TIÊN THIÊN BÁT QUÁI 

"Hệ từ truyện" nói rằng: " Dịch có Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ Tượng sinh bát quái. 
Thái Cực là âm dương chưa phân, vũ trụ còn thời kỳ hỗn độn. Gọi là thái cực vì bao la đến vô cùng, vô tận. Vật cùng tất biến, cho nên thái cực tất sẽ phân hóa thành âm dương, hình thành trời đất, hoặc bản thân thiên thể có cả âm dương. 
Phân âm dương là thành lưỡng nghi. Lưỡng nghi tức là trời và đất. Lấy Dương (___) thay cho trời, lấy Âm (_ _) thay cho đất. Hào âm, hào dương chính là kí hiệu cơ bản nhất cho bát quái. 
Lưỡng nghi sinh tứ tượng, tức là âm dương trùng nhau, âm dương giao nhau mà thành. Tứ Tượng sinh bát quái thực tế vẫn là âm dương trùng hợp mà thành.
Thiệu Ung nói Rằng: " Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8. Càn Đoài là Thái Dương, Cấn Không là Thái Âm, Tốn Khảm là Thiếu Dương, Ly Chấn là Thiếu Âm.
THỨ TỰ HẬU THIÊN BÁT QUÁI 
Hậu thiên bát quái do Văn Vương khi bị giam trong ngục mới diễn lại các quẻ mà thành. Ông đặt ra thoán từ cho mỗi quẻ, để giải thích cát hung, tốt xấu. Đến đời con ông là Chu Công lại cắt nghĩa từng hảo, ý nghĩ sâu xa khó hiểu.


Hậu thiên bát quái thực tế là dựa theo phương vị các quẻ trong câu sau đây trong phần thuyết quái: " Đế xuất hồ chấn, tề hồ tốn, tương kiến hồ ly, chí dịch hồ không, duyệt ngôn hồ đoài, chiến hồ kiền, lao hồ khảm, thành ngôn hồ cấn" .
Câu văn trên chỉ sự vận hành của thái dương, cũng có nghĩa là sự vận hành của vũ trụ:
Đế xuất hồ chấn: vũ trụ bắt đầu bằng quẻ chấn ( Chấn tức động, chuyển động) vụ trụ hình thành bằng  việc chuyển động mà ra. Chấn là phương đông, lệnh của tháng 2 mùa xuân. Nguyên khí từ Đông, khởi đầu cho chu trình của vạn vật. Lúc này dương khí mới bắt đầu cho nên một dương ở dưới 2 âm.
Tề hồ Tốn: Khi vận hành đến tốn vạn vật đã đầy đủ, hưng vượng, Tốn là phương đông nam, lệnh của tháng 3, 4. Nguyên khí đã phân phối cho vạn vật.
Tương kiến hồ Ly: Tượng trong ngày, ánh sáng rực rỡ, mọi vật đều thấy rõ. Ly là tượng của tháng 5.
Chí dịch hồ Khôn: Không là đất, Đất nuôi dưỡng vạn vật, không thuộc phương Tây Nam, Nguyên khí đã vận hành được nửa chu kì, đây là thời kì vạn vật phát triển đầy đủ. Thuộc lệnh tháng 6, 7.
Duyệt ngôn hồ Đoài: Thuộc phương tây, lệnh tháng 8 chính thu. Khi khí âm bắt đầu hình thành. Dương khí tính hướng lên trên, âm khí giáng xuống cho nên một hào âm trên 2 hào dương.
Chiến hồ kiền: Thuộc phương tây bắc lệnh tháng 9, 10. Khi mặt trời đã xuống chân phía tây. Thời khắc ứng với vạn vật tranh sáng tranh tối, âm dương tranh đấu.
Lao hồ khảm: Khi vụ trụ tới khám, mặt trời đã lặn, vạn vật mệt mòi đều quy về đây. Thuộc phương bắc, lệnh tháng 11.
Thành ngôn hồ cấn: Cấn tức là dừng lại, Vũ trụ vận hành đến đây hết một chu kì. Thuộc đông nam, lệnh tháng 12 và 1 tức là giao thời của Đông và xuân.
   

Lưu trữ Blog